anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

Những cơn sốt rét rừng ác tính ấy không chỉ có trong thơ Quang Dũng mà còn để lại dấu ấn đau thương trong thơ ca kháng chiến chống Pháp nói chung: Tôi với anh biết từng cơn ớn lạnh. Sốt run người vừng trán đẫm mồ hôi (Đồng chí - Chính Hữu) Cuộc đời gió bụi pha Câu 2. (5 điểm) Cảm nhận về hình ảnh người lính trong đoạn thơ sau Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh, Sốt run người, ving trán ướt mồ hôi. Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay! Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặt Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay ( đồng chí – chính hữu) No copy trên mạng nha. Em xin cảm ơn mọi người ạ Bạn đang xem: Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh… Thương nhau tay nắm lấy bàn tay Tại Website Gia Đình 365Cảm nhận đoạn thơ: Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh… Thương nhau tay nắm lấy bàn tay Tuyển chọn những bài văn hay Cảm nhận đoạn thơ: Anh với tôi biết […] a. Biểu hiện của tình đồng chí: * Là sự đồng cam, cộng khổ trong cuộc đời người lính: - Đó là những cơn sốt rét rừng đã từng cướp đi bao sinh mạng, từng là nỗi ám ảnh đè nặng lên cuộc đời người lính. Vay Tien Online Me. JavaScript is disabled. For a better experience, please enable JavaScript in your browser before đang xem Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnhYou are using an out of date browser. It may not display this or other websites should upgrade or use an alternative browser. TRỌN BỘ Bí kíp học tốt 08 môn Chắc suất Đại học top - Giữ chỗ ngay!! ĐĂNG BÀI NGAY để cùng trao đổi với các thành viên siêu nhiệt tình & dễ thương trên diễn bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu có đoạn Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi. Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay. Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 20161. Theo em, từ “biết” trong câu thơ “Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh” có ý nghĩa gì?2. Hình ảnh “Miệng cười buốt giá” gợi cho em nhớ đến hình ảnh nào trong một bài thơ ở chương trình Ngữ văn 9. Ghi lại câu thơ chứa hình ảnh đó, nêu tên tác giả, tác phẩm. Hình ảnh “Miệng cười buốt giá” và hình ảnh thơ em vừa ghi giúp em hiểu gì về vẻ đẹp, phẩm chất của người lính cách mạng?Giúp mk vs Trong bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu có đoạn Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi. Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay. Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 20161. Theo em, từ “biết” trong câu thơ “Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh” có ý nghĩa gì?2. Hình ảnh “Miệng cười buốt giá” gợi cho em nhớ đến hình ảnh nào trong một bài thơ ở chương trình Ngữ văn 9. Ghi lại câu thơ chứa hình ảnh đó, nêu tên tác giả, tác phẩm. Hình ảnh “Miệng cười buốt giá” và hình ảnh thơ em vừa ghi giúp em hiểu gì về vẻ đẹp, phẩm chất của người lính cách mạng?Giúp mk vsCâu 1 Từ " biết" trong câu trên thể hiện sự khó khăn, gian khổ. Sự gian khó đã kéo dài thật lâu, thật dai dẳng đến nỗi mà những người lính đã quen thuộc, đã biết đến. Câu 2 Hình ảnh "Miệng cười buốt giá" khiến em gợi nhớ đến tác phẩm" Bài thơ về tiểu đội xe không kính" của Phạm Tiến Duật. Câu thơ mang hình ảnh đó là" Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha".Hình ảnh đó gợi đến phẩm chất anh hùng, dũng cảm, không màng nguy hiểm, cùng tinh thần lạc quan của những người lính cách Uyên NhiiVề chúng tôi Chủ quản Hệ thống giáo dục HOCMAITòa nhà 25T2 Trung Hòa - Cầu Giấy - Hà NộiGiấy phép MXH số 597/GP-BTTTT Bộ TT&TT cấp Miệng cư... - Chọn lớp Tất cả Mẫu giáo Lớp 1 Lớp 2 Lớp 3 Lớp 4 Lớp 5 Lớp 6 Lớp 7 Lớp 8 Lớp 9 Lớp 10 Lớp 11 Lớp 12 ĐH - CĐ Chọn môn Tất cả Toán Vật lý Hóa học Sinh học Ngữ văn Tiếng anh Lịch sử Địa lý Tin học Công nghệ Giáo dục công dân Âm nhạc Mỹ thuật Tiếng anh thí điểm Lịch sử và Địa lý Thể dục Khoa học Tự nhiên và xã hội Đạo đức Thủ công Quốc phòng an ninh Tiếng việt Khoa học tự nhiên Tất cả Toán Vật lý Hóa học Sinh học Ngữ văn Tiếng anh Lịch sử Địa lý Tin học Công nghệ Giáo dục công dân Âm nhạc Mỹ thuật Tiếng anh thí điểm Lịch sử và Địa lý Thể dục Khoa học Tự nhiên và xã hội Đạo đức Thủ công Quốc phòng an ninh Tiếng việt Khoa học tự nhiên Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vừng trán ướt mồ anh rách vai Quần tôi có vài mảnh váMiệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tayCâu 1. Khổ thơ trên sử dụng biện pháp nghệ thuật gì?Câu 2. Ý nghĩa của khổ thơ trên ?Câu 3. Nêu nội dung của khổ thơ trên ? Dưới đây là một vài câu hỏi có thể liên quan tới câu hỏi mà bạn gửi lên. Có thể trong đó có câu trả lời mà bạn cần! Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi phía dướiRuộng nương anh gửi bạn thân càyGian nhà không mặc kệ gió lung layGiếng nước gốc đa nhớ người ra línhAnh với tôi biết từng cơn ớn lạnhSốt run người vầng trán ướt mồ hôiÁo anh rách vaiQuần tôi có vài mảnh váMiệng cười buốt giáChân không giàyThương nhau tay nắm lấy bàn tayNêu cảm nhận của em về câu thơ “Thương nhau tay nắm...Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi phía dướiRuộng nương anh gửi bạn thân càyGian nhà không mặc kệ gió lung layGiếng nước gốc đa nhớ người ra línhAnh với tôi biết từng cơn ớn lạnhSốt run người vầng trán ướt mồ hôiÁo anh rách vaiQuần tôi có vài mảnh váMiệng cười buốt giáChân không giàyThương nhau tay nắm lấy bàn tayNêu cảm nhận của em về câu thơ “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”. Câu thơ “thương nhau tay nắm lấy bàn tay” thể hiện sức mạnh gắn bó sâu nặng của tình đồng chí. + Cử chỉ cảm động chứa chan tình cảm chân thành, sự cảm thông giữa những người lính. + Cái bắt tay không phải thông thường mà là những bàn tay tự tìm đến với nhau truyền cho nhau hơi ấm để cùng vượt qua giá lạnh, buốt giá. - Phản ánh tình đồng chí sâu đậm, có chiều sâu, để đi tới chiều cao cùng sống chết cho lí tưởng.→ Tình thương, sự đoàn kết, chia sẻ thông qua “tay nắm bàn tay”. Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi phía dướiRuộng nương anh gửi bạn thân càyGian nhà không mặc kệ gió lung layGiếng nước gốc đa nhớ người ra línhAnh với tôi biết từng cơn ớn lạnhSốt run người vầng trán ướt mồ hôiÁo anh rách vaiQuần tôi có vài mảnh váMiệng cười buốt giáChân không giàyThương nhau tay nắm lấy bàn tayTheo em hình ảnh “giếng nước gốc đa” là hình ảnh ẩn...Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi phía dướiRuộng nương anh gửi bạn thân càyGian nhà không mặc kệ gió lung layGiếng nước gốc đa nhớ người ra línhAnh với tôi biết từng cơn ớn lạnhSốt run người vầng trán ướt mồ hôiÁo anh rách vaiQuần tôi có vài mảnh váMiệng cười buốt giáChân không giàyThương nhau tay nắm lấy bàn tayTheo em hình ảnh “giếng nước gốc đa” là hình ảnh ẩn dụ hay hoán dụ? Nêu tác dụng của biện pháp nghệ thuật đó. - “Giếng nước gốc đa” là hình ảnh hoán dụ về quê hương cũng như người thân nơi hậu phương của người lính. - Câu thơ có nỗi nhớ hai chiều da diết quê hương nhớ người lính và người lính nhớ gia đình, quê nhà.→ Những người lính chia sẻ nỗi nhớ quê hương, nỗi nhớ nhà cùng với nhau. Họ sống với nhau trong tình thương nỗi nhớ, và cùng nhau vượt qua nỗi nhớ để tiếp tục chiến đấu. Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi phía dướiRuộng nương anh gửi bạn thân càyGian nhà không mặc kệ gió lung layGiếng nước gốc đa nhớ người ra línhAnh với tôi biết từng cơn ớn lạnhSốt run người vầng trán ướt mồ hôiÁo anh rách vaiQuần tôi có vài mảnh váMiệng cười buốt giáChân không giàyThương nhau tay nắm lấy bàn tayThông qua hình ảnh “miệng cười buốt giá”, “ sốt run...Xem thêm Kinh Nghiệm Du Lịch Đường Hầm Đất Sét Đà Lạt, Đường Hầm Đất SétĐọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi phía dướiRuộng nương anh gửi bạn thân càyGian nhà không mặc kệ gió lung layGiếng nước gốc đa nhớ người ra línhAnh với tôi biết từng cơn ớn lạnhSốt run người vầng trán ướt mồ hôiÁo anh rách vaiQuần tôi có vài mảnh váMiệng cười buốt giáChân không giàyThương nhau tay nắm lấy bàn tayThông qua hình ảnh “miệng cười buốt giá”, “ sốt run người”, “áo rách vai” và cho em hiểu điều gì về cuộc sống của những người lính? - Những người lính không chỉ chia sẻ nỗi nhớ nhà nói chung, nỗi nhớ quê hương mà còn là sự chia sẻ những thiếu thốn của cuộc đời người lính. + Họ thấu hiểu, chia sẻ cùng đối mặt, cùng chịu bệnh tật, những cơn sốt rét ghê gớm, cái lạnh nơi rừng thiêng nước độc mà hầu như người lính nào cũng phải trải qua. + Những người lính phải vượt qua cả sự khó khăn, thiếu thốn về vật chất thông qua cặp câu sóng đôi, đối ứng nhau trong từng cặp câu và từng cặp câu. - Người lính bao giờ cũng nhìn và nói về bạn trước khi nói về mình, cách nói ấy thể hiện nét đẹp trong tình cảm thương người như thể thương thân, trọng người hơn trọng mình.→ Chính tình đồng đội, đồng chí làm ấm lòng những người lính để họ vẫn cười trong buốt giá nhưng vượt lên trên buốt giá, thiếu thốn. Đúng1 chuyển .... thành bài văn tự sự ĐỒNG CHÍAnh với tôi biết từng cơn ớn lạnhSốt run người vừng trán ướt mồ hôiÁo anh rách vaiquần tôi có vài mảnh vámiệng cười buốt giáchân ko giàythương nhau tay nắm lấy bàn tay Ngữ văn lớp 9 0 Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi phía dướiRuộng nương anh gửi bạn thân càyGian nhà không mặc kệ gió lung layGiếng nước gốc đa nhớ người ra línhAnh với tôi biết từng cơn ớn lạnhSốt run người vầng trán ướt mồ hôiÁo anh rách vaiQuần tôi có vài mảnh váMiệng cười buốt giáChân không giàyThương nhau tay nắm lấy bàn tayTừ“mặc kệ”đặt giữa câu thơ có cùng với hình ảnh...Đọc tiếpĐọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi phía dướiRuộng nương anh gửi bạn thân càyGian nhà không mặc kệ gió lung layGiếng nước gốc đa nhớ người ra línhAnh với tôi biết từng cơn ớn lạnhSốt run người vầng trán ướt mồ hôiÁo anh rách vaiQuần tôi có vài mảnh váMiệng cười buốt giáChân không giàyThương nhau tay nắm lấy bàn tayTừ“mặc kệ”đặt giữa câu thơ có cùng với hình ảnh làng quê quen thuộc đã gợi cho em cảm xúc gì về tình cảm của người lính cách mạng? Ngữ văn lớp 9 1 Nguyễn Tuấn Dĩnh Từ “mặc kệ” được đặt giữa câu thơ có những hình ảnh của làng quê quen thuộc không phải để nói về sự thờ ơ, vô tình của những người lính trước gia đình, quê với những người lính thì ruộng nương, căn nhà là cơ nghiệp, ước muốn, nguyện vọng gắn bó cả đời của vì nhiệm vụ, vì nền hòa bình độc lập của đất nước họ phải gác lại tình riêng lên đường vào mặt thơ chứa từ “mặc kệ” “Gian nhà không mặc kệ gió lung lay” giàu sức biểu cảm và gợi hình - Để lại cả cơ nghiệp hoang trống ra đi, người thân ở lại đó là sự hi sinh lớn lao hạnh phúc cá nhân vì mục tiêu, lý tưởng của cách mạng. - Những người lính phải nén lại nỗi nhớ mong quê hương để tiếp tục chiến đấu. Đúng0 cảm nhận của em về vẻ đẹp của người lính qua 2 đoạn thơ sau anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh \sốt rung người vùng trán ướt mồ hôi \áo anh rách vai \quần tôi có vài mảnh vá /miệng cười buốt giá/chân không giày và không có kính ừ thì ướt áo mưa tuôn......khô mau thôi Ngữ văn lớp 9 2 Dzịt Tham khảoHình tượng người lính trong kháng chiến là đề tài thu hút nhiều bút lực. Đó là anh hùng áo vải sẵn sàng hi sinh tính mạng cho nhân dân đất nước, nhiều nhà thơ đã viết về họ… Và trong đó không thể không kể đến một bài thơ "Đồng chí" của Chính Hữu. Bài thơ được viết đầu năm 1948 những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp vô cùng khó khăn gian khổ cả về vật chất lẫn tinh thần, đời sống kháng chiến. Nhưng tinh thần đoàn kết thương yêu của đồng chí, đồng đội họ đã vượt qua để chiến đấu chiến Hữu viết "Đồng chí" hướng ngòi bút vào chất hiện thực đời sống kháng chiến khai thác cái đẹp trong cái giản dị chân thực, đời thường tình đồng chí đồng đội thắm thiết sâu nặng của người lính cách mạng rất tự nhiên như vốn có ngoài đời, đúng với phẩm chất người lính cụ Hồ, giản dị mà anh cảm đồng chí đặc biệt được thể hiện ở sự chia sẻ tâm tư nỗi niềm, những gian lao thiếu thốn của cuộc đời người lính biết bao gian khổ."Anh với tôi biết từng cơn ớn run người vừng trán ướt mồ anh rách vaiQuần tôi có vài mảnh váMiệng cười buốt giáChân không giàyThương nhau tay nắm lấy bàn tay."Những câu thơ miêu tả hiện thực đời sống người lính tới từng chi tiết khó khăn gian khổ, thiếu thốn bệnh tật. Những cơn sốt rét rừng hành hạ là có thực, đói rét, chân không giầy, đầu không mũ, áo phong phanh một manh, quần rách vá là thực. Sương muối phủ rừng hoang… Bút pháp hiện thực thể hiện qua những câu thơ sóng đôi góp phần diễn tả sự sẻ chia trong mọi cảnh ngộ… Song cái đẹp nhất, quý giá nhất ở người lính là tình đồng đội, thương nhau tay nắm… tay. Trong đói rét hiểm nguy người lính đã tìm hơi ấm nơi bàn tay nhau, truyền cho nhau tình cảm sức mạnh vượt lên. Cuộc chiến đấu trường kì gian khổ là thế, bộ đội ta chỉ có tình đồng chí đồng đội, tình yêu thương giai cấp là nền tảng cơ sở để tồn tại. Tiếp sức cho nhau, tiếp tục chiến đấu thắng lợi cuối tượng người lính trong kháng chiến chống Pháp hiện lên trong bài thơ thật giản dị chân thật hàm xúc, giàu sức biểu cảm. Tình đồng chí của những người lính dựa trên cơ sở cùng chung cảnh ngộ, lí tưởng chiến đấu. Đã góp phần quan trọng tạo lên vẻ đẹp sức mạnh tinh thần của người lính cách mạng. Bài thơ giản dị nhưng để lại trong người đọc nhiều rung cảm sâu sắc là bằng chứng xác thực về một thời oanh liệt tình người cao đẹp. Dàn ý số 1I. Mở bài– Giới thiệu đôi nét về tác giả Chính Hữu và bài thơ “Đồng chí”.+ Đồng chí là sáng tác của nhà thơ Chính Hữu viết vào năm 1948, thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.+ Chân dung người lính hiện lên chân thực, giản dị với tình đồng chí cao dụ Hình ảnh người lính trong chiến đấu luôn là một đề tài bất tận của thơ ca kháng chiến, mỗi một thời kỳ người lính lại toát lên những vẻ đẹp khác nhau. Trong kháng chiến chống Pháp, Chính Hữu đưa đến cho chúng ta hình ảnh về những người lính giản dị II. Thân bài* Hình ảnh người lính hiện lên hết sức chân thực.– Họ là những người nông dân cùng chung cảnh ngộ xuất thân nghèo khổ nhưng đôn hậu, mộc mạc, cùng chung mục đích, lý tưởng chiến đấu.* Hình ảnh người lính hiện lên với những vẻ đẹp của đời sống tâm hồn, tình cảm– Là sự thấu hiểu những tâm tư, nỗi lòng của nhau, cùng chia sẻ những gian lao, thiếu thốn của cuộc đời người lính. Đó là sự ốm đau, bệnh tật.– Là sự đoàn kết, thương yêu, kề vai sát cánh bên nhau cùng nhau chiến đấu chống lại quân thù tạo nên bức tượng đài bất diệt về hình ảnh người lính trong kháng chiến chống Pháp.– Tình cảm gắn bó thầm lặng mà cảm động của người lính “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”.– Sự lãng mạn và lạc quan “miệng cười buốt giá”; hình ảnh “đầu súng trăng treo” gợi nhiều liên tưởng phong Kết bài– Khẳng định vẻ đẹp của hình tượng người lính trong kháng chiến chống Pháp.– Hình tượng người lính được thể hiện qua các chi tiết, hình ảnh, ngôn ngữ giản dị, chân thực cô đọng mà giàu sức biểu cảm, hướng về khai thác đời sống nội ý số 2I. Mở bài– Giới thiệu tác phẩm Đồng Chí, tác giả Chính Hữu.– Hoàn cảnh sáng tác đầu năm 1948, sau khi tác giả đã cùng đồng đội tham gia chiến dịch Việt Thân bài1. Cơ sở hình thành tình đồng chí– Tình đồng chí bắt nguồn từ sự tương đồng về hoàn cảnh xuất thân của những người lính"Quê hương anh nước mặn đồng chuaLàng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá"“Anh” ra đi từ vùng "nước mặn đồng chua", "tôi" từ miền "đất cày lên sỏi đá".Hai miền đất xa nhau và "đôi người xa lạ" nhưng cùng giống nhau ở cái "nghèo".Hai câu thơ giới thiệu thật giản dị hoàn cảnh xuất thân của người lính Họ là những người nông dân nghèo.– Tình đồng chí hình thành từ sự cùng chung nhiệm vụ, cùng chung lý tưởng, sát cánh bên nhau trong hàng ngũ chiến đấu"Súng bên súng, đầu sát bên đầu"Họ vốn "chẳng hẹn quen nhau" nhưng lý tưởng chung của thời đại đã gắn kết họ lại với nhau trong hàng ngũ quân đội cách mạng."Súng" biểu tượng cho nhiệm vụ chiến đấu, "đầu" biểu tượng cho lý tưởng, suy điệp từ súng, đầu, bên tạo nên âm điệu khoẻ, chắc, nhấn mạnh sự gắn kết, cùng chung lý tưởng, cùng chung nhiệm vụ.– Tình đồng chí nảy nở và bền chặt trong sự chan hòa và chia sẻ mọi gian lao cũng như niềm vui“Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ”Cái khó khăn thiếu thốn hiện lên đêm rét, chăn không đủ đắp nên phải "chung chăn".Nhưng chính sự chung chăn ấy, sự chia sẻ với nhau trong gian khổ ấy đã trở thành niềm vui, thắt chặt tình cảm của những người đồng đội để trở thành "đôi tri kỷ".=> Sáu câu thơ đầu đã giải thích cội nguồn và sự hình thành của tình đồng chí giữa những người đồng đội. Câu thơ thứ bảy như một cái bản lề khép lại đoạn thơ một để mở ra đoạn Những biểu hiện của tình đồng chí– Tình đồng chí là sự cảm thông sâu sắc những tâm tư, nỗi niềm của nhau. Những người lính gắn bó với nhau, họ hiểu đến những nỗi niềm sâu xa, thầm kín của đồng đội mình“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày,Gian nhà không, mặc kệ gió lung layGiếng nước gốc đa nhớ người ra lính”Người lính đi chiến đấu để lại sau lưng những gì yêu quý nhất của quê hương ruộng nương, gian nhà, giếng nước gốc đa. Từ "mặc kệ"cho thấy tư thế ra đi dứt khoát của người sâu xa trong lòng, họ vẫn da diết nhớ quê hương. Ở ngoài mặt trận, họ vẫn hình dung thấy gian nhà không đang lung lay trong cơn gió nơi quê nhà xa xôi.– Tình đồng chí còn là cùng nhau chia sẻ những gian lao, thiếu thốn của cuộc đời người lính Những gian lao, thiếu thốn trong cuộc sống của người lính những năm kháng chiến chống pháp hiện lên rất cụ thể, chân thực áo rách, quần vá, chân không giày, sự khổ sở của những cơn sốt rét rừng hành hạ, trời buốt giá, môi miệng khô và nứt nẻ, nói cười rất khó khăn, có khi nứt ra chảy cả máu. Nhưng những người lính vẫn cười bởi họ có hơi ấm và niềm vui của tình đồng đội "thương nhau tay nắm lấy bàn tay".Hơi ấm ở bàn tay, ở tấm lòng đã chiến thắng cái lạnh ở "chân không giày" và thời tiết "buốt giá". Cặp từ xưng hô "anh" và "tôi" luôn đi với nhau, có khi đứng chung trong một câu thơ, có khi đi sóng đôi trong từng cặp câu liền nhau diễn tả sự gắn bó, chia sẻ của những người đồng Hình ảnh biểu tượng cho tình đồng chí– Ba câu cuối cùng kết thúc bài thơ bằng một hình ảnh thơ thật đẹp“Đêm nay rừng hoang sương muốiĐứng cạnh bên nhau chờ giặc tớiĐầu súng trăng treo”Nổi lên trên cảnh rừng đêm hoang vắng, lạnh lẽo là hình ảnh người lính "đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới". Đó là hình ảnh cụ thể của tình đồng chí sát cánh bên nhau trong chiến đấu. Họ đã đứng cạnh bên nhau giữa cái giá rét của rừng đêm, giữa cái căng thẳng của những giây phút "chờ giặc tới". Tình đồng chí đã sưởi ấm lòng họ, giúp họ vượt lên tất cả…– Câu thơ cuối cùng mới thật đặc sắc "Đầu súng trăng treo". Đó là một hình ảnh thật mà bản thân Chính Hữu đã nhận ra trong những đêm phục kích giữa rừng khuya.– Nhưng nó còn là một hình ảnh thơ độc đáo, có sức gợi nhiều liên tưởng phong phú sâu xa."Súng" biểu tượng cho chiến tranh, cho hiện thực khốc liệt. "Trăng" biểu tượng cho vẻ đẹp yên bình, mơ mộng và lãng hình ảnh "súng" và "trăng" kết hợp với nhau tạo nên một biểu tượng đẹp về cuộc đời người lính chiến sĩ mà thi sĩ, thực tại mà mơ mộng. Hình ảnh ấy mang được cả đặc điểm của thơ ca kháng chiến – một nền thơ giàu chất hiện thực và giàu cảm hứng lãng vậy, câu thơ này đã được Chính Hữu lấy làm nhan đề cho cả một tập thơ – tập "Đầu súng trăng treo".=> Đoạn kết bài thơ là một bức tranh đẹp về tình đồng chí, đồng đội của người Kết bài– Tóm tắt các ý đã phân tích.– Liên hệ bản ý số 3I. Mở bài giới thiệu về tác giả Chính Hữu, bài thơ Đồng Thân bài phân tích chi tiết tác phẩm và nêu cảm nhận về bài thơ1. Cơ sở hình thành tình đồng chí của người línha. Tình đồng chí của người lính bắt nguồn từ sự tương đồng về hoàn cảnh xuất thân– Ngay từ những câu thơ mở đầu, tác giả đã lí giải cơ sở hình thành tình đồng chí thắm thiết, sâu nặng của anh và tôi – của những người lính cách mạng“Quê hương tôi nước mặn đồng chuaLàng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.”+ Thành ngữ “nước mặn đồng chua”, hình ảnh “đất cày lên sỏi đá”+ Giọng điệu thủ thỉ, tâm tình như lời kể chuyện=> Các anh ra đi từ những miền quê nghèo đói, lam lũ – miền biển nước mặn, trung du đồi núi, và gặp gỡ nhau ở tình yêu Tổ quốc lớn lao. Các anh là những người nông dân mặc áo lính – đó là sự đồng cảm về giai cấp.– Cũng như giọng thơ, ngôn ngữ thơ ở đây là ngôn ngữ của đời sống dân dã, mộc mạc“Anh với tôi đôi người xa lạTự phương trời chẳng hẹn quen nhau”.=> Đến từ mọi miền đất nước, vốn là những người xa lạ, các anh đã cùng tập hợp trong một đội ngũ và trở nên thân Cùng chung mục đích, lí tưởng chiến đấu“Súng bên súng, đầu sát bên đầu”– Điệp từ, hình ảnh sóng đôi mang ý nghĩa tượng trưng => Tình đồng chí, đồng đội được hình thành trên cơ sở cùng chung nhiệm vụ và lí tưởng cao đẹp. Theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc thân yêu, các anh đã cùng tập hợp dưới quân kì, cùng kề vai sát cánh trong đội ngũ chiến đấu để thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng của thời Cùng chia sẻ mọi gian lao, thiếu thốn– Mối tính tri kỉ của những người bạn chí cốt được biểu hiện bằng một hìn ảnh cụ thể, giản dị, gợi cảm“Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”.=> Chính trong những ngày gian khó, các anh đã trở thành tri kỉ của nhau,để cùng chung nhau cái giá lạnh mùa đông, chia nhau cái khó khăn trong một cuộc sống đầy gian nan.– Dòng thơ thứ bảy trong bài thơ “Đồng chí” là một điểm sáng tạo, một nét độc đáo qua ngòi bút của Chính Hữu+ Dòng thơ được tách riêng độc lập, là một câu đặc biệt gồm từ hai âm tiết đi cùng dấu chấm than, ngân vang như tiếng gọi tha thiết, tạo một nút nhấn, lắng lại.+ Hai tiếng “Đống chí” thật giản dị, đẹp đẽ, là điểm hội tụ, là nơi kết tinh bao tình cảm đẹp tình giai cấp, tình bạn,tình người trong chiến tranh.=> Dòng thơ thứ bảy có ý nghĩa như một bản lề gắn kết đoạn đầu và đoạn thứ hai của bài thơ, là điểm nhấn, là mạch cảm xúc chung cho toàn bài. Có thể nói, hai tiếng “Đồng chí” vang lên thật giản dị và mang ý nghĩa vô cùng thiêng liêng trong thơ ca kháng Biểu hiện và sức mạnh của tình đồng chía. Tình đồng chí của người lính Cách mạng được biểu hiện qua sự thấu hiểu những tâm tư, nỗi lòng của nhau– Các anh là những người lính gác tình riêng, ra đi vì nghĩa lớn, để lại sau lưng mảnh trời quê hương với bao băn khoăn, trăn trở.– Hai chữ “mặc kệ” => Thái độ dứt khoát của người ra đi khi lí tưởng đã rõ ràng, mục đích đã chọn lựa“Anh trai làng quyết đi giết giặc lập công”.– Hình ảnh “gian nhà không” vừa gợi cái nghèo, cái xơ xác của những miền quê lam lũ, vừa gợi sự trống trải trong lòng người ở lại.– “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” là cách nói tế nhị, giàu sức gợi. Quê hương nhớ người đi lính hay chính những người ra đi luôn nhớ về quê hương. Thủ pháp nhân hóa và hai hình ảnh hoán dụ đã biểu đạt sâu sắc tâm trạng, nỗi niềm của những người lính nơi chiến tuyến. Nhớ về quê hương cũng chính là cách tự vượt lên mình, vượt lên tình riêng vì sự nghiệp chung của đất Là đồng chí của nhau, họ cùng chia sẻ những gian lao, thiếu thốn của cuộc đời quân ngũ“Áo anh rách vaiQuần tôi có vài mảnh váMiệng cười buốt giáChân không giày”.=> Những chi tiết tả thực, hình ảnh sóng đôi đã góp phần tái hiện chân thực những khó khăn, gian khổ của cuộc đời người lính trong buổi đầu kháng chiến. Các anh đã cùng nhau gánh vác, cùng nhau chịu đựng…Chính tình đồng đội đã giúp họ lên cái “buốt giá” của mùa đông chiến đầu để rồi tỏa sáng nụ cười và càng thương nhau hơn.– Hình ảnh “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” có sức gợi nhiều hơn tả với nhịp thơ chảy dài. Đây là cách thể hiện tình cảm rất lính. “Tay nắm lấy bàn tay” để truyền cho nhau hơi ấm của tình đồng đội, truyền cho nhau sức mạnh của tình đồng chí. Cái nắm tay ấy còn là lời hứa hẹn lập Biểu tượng của tình đồng chí– Tình đồng đội trong bài “Đồng chí” được Chính Hữu thể hiện thật đẹp qua những câu thơ cuối bài“Đêm nay rừng hoang sương muốiĐứng cạnh bên nhau chờ giặc tớiĐầu súng trăng treo”.– Đây là bức tranh đẹp về tình đồng chí, là biểu tượng cao cả về cuộc đời người chiến sĩ.– Rừng hoang sương muối gợi sự khốc liệt, khắc nghiệt của thiên nhiên, của chiến tranh.– “Đầu súng trăng treo” là hình ảnh rất thực và cũng rất lãng mạn+“Súng” và “trăng” – hai hình ảnh tưởng như đối lập song lại thống nhất hòa quyện – là cứng rắn và dịu êm – là gần và xa – là thực tại và mơ mộng – là chất chiến đấu và chất trữ tình – là chiến sĩ và thi sĩ.+ Hiếm thấy một hình tượng nào vừa đẹp,vừa mang đầy đủ ý nghĩa như “Đầu súng trăng treo” của Chính Hữu.+ Đây là một phát hiện, một sáng tạo bất ngờ về vẻ đẹp bình dị và cao cả trong tâm hồn người chiến sĩ. Hình tượng này góp phần nâng cao giá trị bài thơ và trở thành nhan đề cho cả tập thơ “Đầu súng trăng treo”.III. Kết bài khẳng định giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật qua đó nếu cảm nhận của em về tác ý số 41. Giới thiệu chung– Ông trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp.– Tác giả từng cầm súng chiến đấu nên ông rất am hiểu tâm tư, cuộc đời người lính.– Bắt đầu sáng tác năm 1947, chủ yếu viết về đề tài người lính và chiến tranh.– Đặc điểm thơ Chính Hữu cảm xúc chân thành, mãnh liệt, ngôn ngữ giàu hình ảnh, giọng điệu phong phú.– Hoàn cảnh sáng tác mùa xuân năm 1948, được in trong tập “Đầu súng trăng treo” 1966– Đoạn thơ đã nói lên những biểu hiện của tình đồng chí keo sơn, gắn bó và sức mạnh của tình đồng chí trong cuộc kháng chiến chống Phân tícha. Biểu hiện của tình đồng chí* Là sự đồng cam, cộng khổ trong cuộc đời người lính– Đó là những cơn sốt rét rừng đã từng cướp đi bao sinh mạng, từng là nỗi ám ảnh đè nặng lên cuộc đời người lính. Cách nói “anh với tôi” một lần nữa cho thấy câu thơ không chỉ tả hình ảnh người lính bị cơn sốt rét rừng hành hạ mà còn gợi tình cảm đồng chí, đồng đội khi gian khổ đến cùng cực “sốt run người” vẫn quan tâm, lo lắng cho nhau.– Đó còn là cái hiện thực thiếu thốn, khó khăn, gian khổ của cuộc đời người lính. Họ đã sống trong hoàn cảnh nghèo nàn về vật chất thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu thuốc men…nhưng họ vượt lên tất cả nhờ sức mạnh của tình đồng chí.– Đó còn là những khắc nghiệt của khí hậu núi rừng nhưng họ đã vượt lên nhờ tinh thần lạc quan cách mạng, sự ấm áp của tình đồng chí.* Là niềm yêu thương, gắn bó sâu nặng họ dành cho nhau.– Hình ảnh “tay nắm bàn tay”+ Chất chứa bao yêu thương trìu mến.+ Sẵn lòng chia sẻ khó khăn.+ Chứa đựng cả những khao khát bên người thân yêu.=> Chính tình đồng chí chân thành, cảm động và sâu sắc đã nâng đỡ bước chân người lính và sưởi ấm tâm hồn họ trên mọi nẻo đường chiến Sức mạnh và vẻ đẹp của tình đồng chí* Được xây dựng trên nền hoàn cảnh khắc nghiệt– Thời gian, không gian rừng đêm hoang vu, lạnh lẽo.– Không khí căng thẳng trước một trận chiến đấu. Trước mắt họ là cả những mất mát, hi sinh không thể tránh Tâm hồn họ vẫn bay lên với hình ảnh vầng trăng nơi đầu Họ vẫn xuất hiện trong tư thế điềm tĩnh, chủ động “chờ giặc tới”.=> Nhờ tựa vào sức mạnh của tinh thần đồng đội. Họ “đứng cạnh bên nhau” và trở thành một khối thống nhất không gì lay chuyển nổi.* Được biểu hiện qua một hình ảnh thơ độc đáo, đầy sáng tạo “Đầu súng trăng treo”– Vốn là một hình ảnh thơ được cảm nhận từ thực tiễn chiến đấu.– Song hình ảnh này mang nhiều ý nghĩa biểu tượng phong phú+ Gợi liên tưởng chiến tranh – hòa bình, hiện thực – ảo mộng, kiên cường – lãng mạn, chất chiến sĩ – chất thi sĩ.+ Gợi vẻ đẹp của tình đồng chí sáng trong, sâu sắc. Sự xuất hiện của vầng trăng là một bằng chứng về sức mạnh kì diệu của tình đồng đội. Tình cảm ấy giúp tâm hồn người lính bay lên giữa lúc gay go, khốc liệt của chiến tranh.+ Gợi vẻ đẹp của tâm hồn người lính – một tâm hồn luôn trong trẻo, tươi mát dẫu phải băng qua lửa đạn chiến tranh.+ Gợi vẻ đẹp tâm hồn dân tộc Việt Nam – một bàn tay giữ chắc cây súng mà trái tim luôn hướng đến những khát vọng thanh Đặc sắc nghệ thuật– Lối miêu tả chân thực, tự nhiên;– Từ ngữ, hình ảnh giản dị và giàu sức gợi, cảm xúc dồn Đánh giá chung– Đoạn thơ thể hiện chân thực, cảm động một tình cảm lớn mang tính thời đại, đó là tình đồng chí bền chặt, thiêng liêng của những người lính cách mạng. Qua đó tác giả đã khắc họa thành công hình ảnh người lính thời kì đầu chống Pháp.– Lối miêu tả chân thực, tự nhiên; từ ngữ, hình ảnh giản dị và giàu sức gợi, cảm xúc dồn ý số 5* Bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu thể hiện người lính nông dân thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp với vẻ đẹp giản dị, mộc mạc mà vô cùng cao quí.– Những người lính xuất thân từ nông dân, ở những miền quê nghèo khó “nước mặn đồng chua”,”đất cày lên sỏi đá”. Họ “chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung”.– Họ đến với cuộc kháng chiến với tinh thần yêu nước thật giản dị nghe theo tiếng gọi cứu nước mà tự nguyện lên đường. Phía sau họ là bao cảnh ngộ xa nhà, xa quê hương, phó mặc nhà cửa, ruộng vườn cho vợ con để sống cuộc đời người lính. Chữ “mặc kệ” trong câu thơ “Gian nhà không mặc kệ gió lung lay” đã lột tả được tinh thần “mến nghĩa” của những người nghĩa binh nông dân trong thơ Nguyễn Đình Chiểu, tinh thần “Ra đi không vương thê nhi” của các đấng trượng phu xưa và tinh thần “Quyết tự cho Tổ quốc quyết sinh” của những người tự vệ Thủ đô những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Nhưng khi đặt cạnh hình ảnh “gian nhà không” và chữ “gió lung lay” thì có gì đó cảm động quá. Người lính không hoàn toàn “mặc kệ” như khẩu khí đâu. Đó là đức hi sinh. Hi sinh cho quê hương đất nước. Một đức hi sinh giản dị làm cảm động lòng người.– Trải qua những ngày gian lao kháng chiến đã ngời lên phẩm chất anh hùng ở những người nông dân mặc áo lính hiền hậu ấy+ Cái nhìn hiện thực đã giúp nhà thơ ghi lại được những nét chân thực về cuộc đời đi chiến đấu của người lính. Hình ảnh họ lam lũ với “áo rách vai”, “quần có vài mảnh vá”, với”chân không giày". Đói,rét, gian khổ khắc nghiệt đã khiến người lính phải chịu đựng những cơn sốt rét“miệng cười buốt giá”,”sốt run người”,”vừng trán ướt mồ hôi”. Trong hoàn cảnh đầy thử thách đó, sống được đã là kì tích. Chính Hữu còn ghi được hình ảnh người lính can trường vượt lên vững vàng trên vị trí của mình “Đêm nay rừng hoang sương muối/Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”.– Họ có một đời sống tình cảm đẹp đẽ, sâu sắc+ Lòng yêu quê hương và gia đình thể hiện qua nỗi nhớ “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”, niềm thương “gian nhà không”, qua ý thức về cảnh ngộ “quê hương anh nước mặn đồng chua” và “làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”.+ Từ hiện thực cuộc sống gian lao thiếu thốn, họ vun đắp được tình đồng chí keo sơn, gắn bó. Không phải vô cớ Chính Hữu đặt tên bài thơ là “Đồng chí” và nhiều lần trong bài thơ hai tiếng ấy đã vang lên. Tình đồng chí, đồng đội như là sự hội tụ, tập trung tất cả những tình cảm, những phẩm chất của người lính Lòng yêu thương giữa những con người cùng cảnh ngộ, tinh thần đồng cam cộng khổ, tinh thần kề vai sát cánh trong chiến đấu, sự gắn kết giữa những người cung chung lí tưởng, chung mục đích và ước mơ. Gian lao thử thách khiến tình đồng chí, đồng đội thêm keo sơn, sâu sắc. Ngược lại, tình đồng chí ấy lại giúp người lính có sức mạnh để vượt qua gian lao thử thách.=> Hình ảnh người lính Cụ Hồ trong những ngày kháng chiến chống Pháp được Chính Hữu khắc họa trong tình đồng chí cao đẹp, tình cảm mới của thời đại cách mạng.=> Họ được khắc họa và ngợi ca bằng cảm hứng hiện thực, bằng những chất thơ trong đời thường,được nâng lên thành những hình ảnh biểu tượng nên vừa chân thực, mộc mạc, vừa gợi cảm lung Người lính trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”* Nếu như những người lính trong thời kì kháng chiến chống Pháp xuất thân từ những người nông dân nghèo khổ, quê hương họ là những nơi “nước mặn đồng chua”, “đất cày lên sỏi đá” thì những chiến sĩ lái xe Trường Sơn lại là những thanh niên có học vấn, có tri thức, đã được sống trong thời bình, được giác ngộ lí tưởng cách mạng cao cả, họ ra đi trong niềm vui phơi phới của sức trẻ hồn nhiên, yêu đời, yêu đất nước.– Hình ảnh người lính lái xe – hình ảnh thế hệ trẻ Việt Nam những năm chống Mỹ phơi phới, dũng cảm, yêu thương được khắc họa qua hình ảnh những chiếc xe không có kính và một giọng điệu thơ ngang tàn, trẻ trung, gần gũi.– Những chiếc xe không có kính là hình ảnh để triển khai tứ thơ về tuổi trẻ thời chống Mỹ anh hùng. Đây là một thành công đặc sắc của Phạm Tiến Duật. Qua hình ảnh chiếc xe bị bom giặc tàn phá, nhà thơ làm hiện lên một hiện thực chiến trường ác liệt, dữ dội. Nhưng cũng “chính sự ác liệt ấy lại làm cái tứ, làm nền để nhà thơ ghi lại những khám phá của mình về những người lính, về tinh thần dũng cảm, hiên ngang, lòng yêu đời và sức mạnh tinh thần cao đẹp của lí tưởng sống chạy bỏng trong họ”. Phân tích các dẫn chứng tư thế thật bình tĩnh, tự tin “Ung dung buồng lái ta ngồi”, rất hiên ngang, hào sảng “Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”. Một cái nhìn cuộc đời chiến đấu thật lãng mạn, bay bổng, trẻ trung “Thấy sao trời và đột ngột cánh chim”. Và độc đáo hơn nữa là tinh thần hóa rủi thành may, biến những thách thức thành gia vị hấp dẫn cho cuộc đối đầu, khiến cho lòng yêu đời được nhận ra và miêu tả thật độc đáo các câu thơ “ừ thì có bụi”,”ừ thì ướt áo” và thái độ coi nhẹ thiếu thốn gian nguy “gió vào xoa mắt đắng”. Họ đã lấy cái bất biến của lòng dũng cảm, thái độ hiên ngang để thắng cái vạn biến của chiến trường gian khổ và ác liệt.– Sâu sắc hơn, nhà thơ bằng ống kính điện ảnh ghi lại được những khoảnh khắc “bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi”,”nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”. Đó là khoảnh khắc người ta trao nhau và nhà thơ nhận ra sức mạnh của tình đồng đội, của sự sẻ chia giữa những con người cùng trong thử thách. Nó rất giống với ý của câu thơ “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” của Chính Hữu, nhưng hồn nhiên hơn, trẻ trung hơn.– Hai câu kết bài thơ làm sáng ngời tứ thơ “Xe vẫn chạy…” về tuổi trẻ Việt Nam thời chống Mỹ Họ mang trong mình sức mạnh của tình yêu với miền Nam, với lí tưởng độc lập tự do và thống nhất đất Điểm giống và khác nhau về hình ảnh anh bộ đội trong hai bài thơ* Giống nhau+ Mục đích chiến đấu Vì nền độc lập của dân tộc.+ Đều có tinh thần vượt qua mọi khó khăn, gian khổ.+ Họ rất kiên cường, dũng cảm trong chiến đấu.+ Họ có tình cảm đồng chí, đồng đội sâu nặng.* Khác nhau+ Người lính trong bài thơ “Đồng chí” mamg vẻ đẹp chân chất, mộc mạc của người lính xuất thân từ nông dân.+ Người lính trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” luôn trẻ trung sôi nổi, vui nhộn với khí thế mới mang tinh thần thời đại. Hình ảnh người linhdmãi mãi là hình ảnh cao quý và đẹp đẽ nhất. Hình ảnh người lính đac đi vào lòng người và văn chương với tư thế và phẩm chất cao đẹp nhất. Một trong số tác phẩm ra đời sớm nhất, tiêu biểu và thành công nhất viết về người lính lag bài thơ “Đồng Chí” của Chính Hữu. Bằng những rừng động, mới mẻ sâu sắc, bài thơ “Đồng Chí” đã diễn tả tình đồng chí gắn bó thiêng liêg dâu nặg xuất những anh bộ đội thời kháng chiế. Là đoạn thơ cuối trong bài thơ “Đồng Chí” nói lên dự cảm thông chia sẻ với nhau những khó khăn thiếu thốn của cuộc kháng chiến. Những câu thiết nói lên những biểu hiện cảm thông của tình đồng chí. Những người lính đặc cảm thông chia sẻ với nhau những khó khăn thiếu thốn “Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Rét run người vầng trán ướt mồ hôi. Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.” Đoạn thơ với bút pháp hiện thực, hình ảnh sóng đôi đối xứng “anh – tôi”, “áo anh – quần tôi” tạo được sự gắn kết của những người đồng chí luôn kề vai sát cánh, đồng cam cộng khổ bên nhau. Trong thiếu thốn, các anh đã cùng chia sẻ ốm đau bệnh tật, cũng trải qua những cơn sốt rét rừng ghê gớm, cùng chia sẻ những thiếu thốn về vật chất, bằng niềm lạc quan “miệng cười buốt giá”, bằng tình yêu thương gắn bó “thương nhau tay nắm lấy bàn tay”. Hình ảnh “miệng cười buốt giá” gợi nụ cười lạc quan bừng lên trong giá lạnh xua tan đi sự khắc nghiệt của chiến trường. Các anh nắm tay nhau để chuyền cho nhau hơi ấm, để động viên nhau vượt qua khó khăn gian khổ. Thật hiếm khi thấy cái bắt tay nào nồng hậu đến vậy! Chính Hữu bằng những nét vẻ giản dị mộc mạc đã vẽ lên bức tranh tuyệt đẹp ngay giữa một hoàn cảnh đầy khắc nghiệt bức tranh người lính đứng gác giữa núi rừng biên giới trong đêm khuya “Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo.” Đêm nay cũng như bao đêm khác, các anh phục kích chờ giặc, chuẩn bị cho trận đánh giành thắng lợi cuối cùng trong chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947, một đêm đã đi vào lịch sử khiến người lính không thể nào quên. Các anh phục kích chủ động chờ giặc trong hoàn cảnh đầy khắc nghiệt “rừng hoang sương muối” “Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”. Các anh chờ giặc tới là chờ giây phút hồi hộp căng thẳng khi ranh giới của sự sống cái chết rất mong manh. Từ “chờ” đã thể hiện được tư thế chủ động của người lính trong đêm phục kích cũng là tư thế chủ động của toàn dân ta sau chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947. Khép lại bài thơ là hình ảnh tuyệt đẹp và thi vị, một phát hiện của người lính trong chính đêm phục kích của mình “đầu súng trăng treo”. Câu thơ gợi từ hiện thực đêm về khuya, người lính đứng gác trong tư thế chủ động, súng chĩa lên trời, trăng lên cao, ánh trăng trên đầu súng khiến các anh tưởng như trăng đang treo trên đầu súng của mình. “Súng” là biểu tượng của cuộc chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh mà người lính đang trải qua, “trăng” là biểu tượng của cuộc sống hòa bình trong tương lai mà người lính đang hướng tới. “Súng” là biểu tượng của người chiến sĩ, trăng là biểu tượng của thi sĩ. “Súng – trăng” là gần và xa, thực tại và mơ mộng, chất chiến đấu và chất trữ tình, chất chiến sĩ và chất thi sĩ, hiện thực và lãng mạn cũng tồn tại, bổ sung tô điểm cho vẻ đẹp cuộc đời người chiến sĩ. Ánh trăng dường như đang ngập tràn khắp núi rừng chiến khu, trên bầu trời và chiếu cả trong làn sương huyền ảo. Tâm hồn các anh, những người chiến sĩ cũng như ánh trăng ấy nồng hậu, lấp lánh ánh sáng lạc quan, luôn hướng về một ngày mai tươi sáng. Chucs bạn học tốt ???????? lý thuyết trắc nghiệm hỏi đáp bài tập sgk Câu hỏi Đề bài CẢM NHẬN vẻ đẹp của đoạn thơ sau ''Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh, Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi. Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay . '' cảm nhận vẻ đẹp của người lính trong hai đoạn trích sauAnh với tôi biết từng cơn ớn lạnh,Sốt run người vừng trán ướt mồ anh rách vaiQuần tôi có vài mảnh váMiệng cười buốt giáChân không giàyThương nhau tay nắm lấy bàn tay . và Không có kính rồi xe không có đèn Không có mui xe , thùng xe có xước Xe vẫn chạy vì miền nam phía trước Chỉ cần trong xe có một trái tiếp Xem chi tiết a, Tìm từ nghĩa gốc và từ nghĩ chuyển các từ vai , miệng , chân , tay trong đoạn thơ sau Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi . Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay. b, Đặt câu có các từ chân , tay theo nghĩa chuyển và nghĩa gốc mỗi từ đặt 2 câu Giúp em với ạ em...Đọc tiếp Xem chi tiết cho đoạn ruộng nương anh gửi bạn thân cày gian nhà không , mặc kệ gió lung lay giếng nước gốc đa nhớ người ra lính anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh sốt run người vầng trán ướt mồ hôi áo anh rách vai quần tôi có vài mảnh vá...Đọc tiếp Xem chi tiết Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo . Đồng chí - Chính Hữu 1 Đoạn thơ trên thể hiện nội dung gì ? 2 Tìm 2 trường từ vựng có trong đoạn thơĐọc tiếp Xem chi tiết Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính. Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh, Sốt run người, vừng trán ướt mồ hôi. Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay! Dựa vào đoạn thơ trên hãy viết 1 đoạn văn khoảng 12 câu theo cách lập luận quy nạp để làm rõ sự đồng cảm sẻ chia giữa những người đồng đội trong đoạn có sử dụng một câu cảm thán và một khởi ngữ MỌI NGƯỜI GIÚP EM...Đọc tiếp Xem chi tiết Bài 1 Sau khi học xong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu em có liên tưởng đến tác phẩm nào có cùng đề tài mà em đã được học trong chương trình lớp 9? Hãy chỉ ra điểm giống nhau và khác nhau giữa bài thơ ấy và bài thơ chủa Chính Hữu? Bài 2 Cảm nhận về hình tượng người lính trong đoạn thơ sau Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh...Đọc tiếp Xem chi tiết 1. Thế nào là ẩn dụ, hoán dụ. 2. Cho đoạn thơ sau Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi. Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay. Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo. a Các từ vai, miệng, chân, tay, đầu từ nào được dùng theo nghĩa gốc, từ nào được dùng theo nghĩa chuyển. b Từ nào được chuyển theo phương thức ẩn dụ, từ nào được chuyển the...Đọc tiếp Xem chi tiết Trình bày cảm nhận của em về hai bài thơ sau [1] Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi. Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau ta nắm lấy bày tay. Đồng Chí- Chính Hữu [2] Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật bom run kính vỡ đi rồi Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất nhìn trời nhìn thẳng. Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính- Phạm Tiến Duật //Mn giúp mik vs ạ 🙋//Đọc tiếp Xem chi tiết Lê Hà 1 tháng 4 2020 lúc 1503 Cảm nhận của em về hình tượng người lính trong hai đoạn thơ sau Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi . Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay. Chính Hữu, Đồng Chí Không có kính , ừ thì ướt áo Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi. Những chiếc xe từ trong bom rơi Đã về đây họp thành tiểu đội Gặp...Đọc tiếp Xem chi tiết Hướng dẫn 1. Mở Bài Giới thiệu tác giảChính Hữu là nhà thơ quân đội. ông sống và viết xuyên suốt chiểu dài hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ của dân tộc nên những sáng tác của ông tập trung chủ yếu vào đề tài người lính và chiến tranh. Thơ ông mang đậm chất liệu của hiện thực cuộc sống. Giới thiệu tác phẩm Bài thơ "Đổng chí"được sáng tác vào đầu xuân năm 1948, thời kì đẩu của cuộc kháng chiến chổng Pháp. Tác phẩm đã viết rất chân thực, cảm động về tình đồng đội, đồng chí cao quý của các anh bộ đội cụ Hó thời kháng chiến chống Pháp và trở thành một trong những bài thơ tiêu biểu nhất viết về để tài này. Giới thiệu đoạn trích Đoạn thơ “Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh/.. ./Đầu súng trăng treo" thể hiện rất rõ nội dung đó. 2. Thân Bài a. 7 câu thơ đầu Hiện thực gian khổ nơi chiến trường Những người lính phải đối mặt với bệnh tật ngay giữa hoàn cảnh thiếu thốn, không thuốc men. Căn bệnh sốt rét rừng hành hạ các anh bằng những “cơn ớn lạnh",những trận "sốt run người, vừng trán ướt mồ hôi".Thậm chí, nhiều người bị vắt kiệt sức lực hay phải nằm lại giữa tế ấy cũng từng được ghi lại trong bài thơ "Tây Tiến" củaQuang Dũng sau này "Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá, dữ oai hùm" Áo rách, quần vá, chân đi đất đó là những thiếu thốn, khó khăn chung của những ngày đẩu kháng chiến. Miệng cười buốt giá Đó là cái buốt giá của đất trời, của núi rừng. Hai từ "buốt giá"khiến người đọc cảm nhận thật rõ cái khắc nghiệt của rừng thiêng nước độc! Tinh đồng đội keo sơn Những người lính đã đồng cam cộng khổ, khi là sự sánh đôi "anh với tôi",khi là sự đối xứng " áo anh" – "quần tôi". Nhưng cảm động nhất là họ vẫn trao nhau những nụ cười, vẫn nắm chặt tay nhau để xoa dịu đi những khó khăn, thiếu thốn ấy. Một nụ cười bằng cả mười thang thuốc bổ và ở đây còn có sức mạnh sưởi ấm. Cả cái siết tay nắm chặt cũng đầy sự cảm thông và chia sẻ, như muốn truyền hơi ấm và sức mạnh cho nhau. Tiếng "thương"nghe sao thật ấm áp, ân tình! Anh với tôi luôn luôn sóng đôi với nhau, có khi cùng nằm trong một câu thơ, có khi sóng đôi trong từng cặp câu liền nhau đã diễn tả sự gắn bó, chia sẻ của những người đổng đội. 3 câu cuối – bức tranh trước giờ chiến đấu Hình ảnh những người lính được miêu tả trên nển thiên nhiên khấc nghiệt + Thời gian đêm tối, lạnh lẽo. + Không gian "Rừng hoang sương muối" -không gian vừa mênh mông, hoang sơ, vừa lạnh lẽo. Họ vẫn vững vàng tay súng “chờ giặc tới"- tư thế chủ động, tự tin, sẵn sàng chiến đấu vì lí tưởng cao đẹp, vì độc lập, tự do của dân tộc. Có được tâm thế ấy là bởi họ có đồng đội "đứng cạnh bên nhau". Quả thực, tình đổng đội, tình đồng chí giúp họ tự tin, bình tĩnh, chủ động đối diện với kẻ thù và vượt qua tất cả. "Đầu súng trâng treo"là một hình ảnh đặc sắc. Trước hết, đó là hình ảnh thực mà Chính Hữu đã nhận ra trong suốt những đêm phục kích chờ giặc. Nhưng đó còn là một hình ảnh giàu biểu tượng +Súng là biểu tượng cho chiến tranh, cho hiện thực khốc liệt. Đổng thời là biểutượng cho lí tưởng, nhiệm vụ của người lính. +Trăng tượng trưng cho vẻ đẹp mơ mộng, yên bình, lãng mạn. => Kết hợp giữa hiện thực và lãng mạn, Chính Hữu đã vẽ nên một bức tranh đơn sơ mà đầy thi vị về người lính. Trong không gian bát ngát của rừng khuya, vầng trảng bất ngờ xuất hiện, chơi vơi trên đầu ngọn súng. Người lính nông dân hiện lên như những người nghệ sĩ đầy chất thơ, bình dị mà đẹp đẽ. Hai hình ảnh súng và trăng kết hợp tạo nên một biểu tượng đẹp về cuộc đời người lính chiến sĩ mà thi sĩ, thực tại mà mơ mộng. Đó là vẻ đẹp mang cả đặc điểm của thơ ca kháng chiến – một nền thơ giàu chất hiện thực và dạt dào cảm hứnglãng mạn. c Nghệ thuật Bút pháp tả thực và nghệ thuật liệt kê đã vẽ nên bức tranh hiện thực vô cùng chân thực về đời sống chiến đấu của những người lính thời chống Pháp. -Thể thơ tự do, linh hoạt trong việc giãi bày, miêu tả. Tạo dựng được hình ảnh có sức gợi, sức biểu tượng cao nắm tay, đầu súng trâng treo. 3. Kết Bài Đoạn thơ đã giúp ta hiểu và trân trọng tình đồng đội, đồng chí – đó là sự đồng cam cộng khổ, sẵn sàng chia sẻ khó khăn, sẵn sàng động viên, tiếp sức cho nhau và cùng nhau chiến đấu vì lí tưởng chung. Khẳng định lại vị trí của bài thơ trong nền thơ ca thời kì đẩu kháng chiếnchống Pháp. Rút ra bài học liên hệ về tình bạn, về lí tưởng sống đẹp. Topics Cảm nhận chiến tranh cuộc sống Đồng chí giới thiệu Quang Dũng sống đẹp thời gian tự tin

anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh